Quốc huy
Chào mừng bạn đến với Cổng thông tin điện tử phường Vũ Phúc, tỉnh Hưng Yên!

Giới thiệu một số điểm mới của Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật số 136/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo (sau đây viết tắt là Luật). Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026. Luật gồm 04 Điều: Điều 1 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công dân; Điều 2 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại; Điều 3 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tố cáo; Điều 4 quy định về hiệu lực thi hành. Dưới đây là một số điểm mới của Luật:

1. Sửa đổi, bổ sung Luật Tiếp công dân
- Về hình thức tiếp công dân: Luật bổ sung quy định về hình thức tiếp công dân trực tuyến (Điều 3a), đồng thời giao Chính phủ quy định việc tiếp công dân trực tuyến.
- Về tiếp công dân ở cấp xã: Luật bổ sung một số nhiệm vụ của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã như: Quyết định bố trí địa điểm tiếp công dân ngoài Trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã; ban hành quy chế tiếp công dân; giao đơn vị phù hợp tham mưu tiếp công dân; quy định Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã trực tiếp tiếp công dân định kỳ tại địa điểm tiếp công dân ít nhất 02 ngày trong 01 tháng. Quy định này bảo đảm đồng bộ với quy định về tiếp công dân của người đứng đầu cấp ủy tại Quy định số 11-QĐ/TW của Bộ Chính trị và phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền cấp xã hiện nay.
- Về quyền và nghĩa vụ của người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh: Để bảo đảm phù hợp thực tế và tránh trường hợp mạo danh, lợi dụng, Luật sửa đổi, hoàn thiện quy định người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh khi đến nơi tiếp công dân có nghĩa vụ "nêu rõ họ tên, địa chỉ, số căn cước, giấy chứng nhận căn cước hoặc số định danh hoặc số hộ chiếu; trường hợp được người khiếu nại ủy quyền thì phải có giấy ủy quyền". 
2. Sửa đổi, bổ sung Luật Khiếu nại
- Về chủ thể khiếu nại: Khoản 1 Điều 30 của Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi năm 2025) quy định "Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân". Do đó, Luật sửa đổi quy định về chủ thể thực hiện quyền khiếu nại từ "công dân" thành "cá nhân", đồng thời sửa đổi người có quyền, lợi ích hợp pháp do hành vi vi phạm pháp luật về khiếu nại gây thiệt hại từ "công dân" thành "cá nhân" tại khoản 2 Điều 24.
- Về rút khiếu nại: Để đáp ứng yêu cầu thực tiễn giải quyết khiếu nại, Luật bổ sung quy định người khiếu nại có thể rút toàn bộ nội dung khiếu nại hoặc một phần nội dung khiếu nại tại bất cứ thời điểm nào trong quá trình khiếu nại và giải quyết khiếu nại. Việc rút khiếu nại được thực hiện bằng đơn rút khiếu nại hoặc biên bản ghi nhận ý kiến rút khiếu nại của người khiếu nại khi làm việc với người giải quyết khiếu nại hoặc người xác minh nội dung khiếu nại (khoản 1 Điều 10). Trường hợp người khiếu nại rút một phần nội dung khiếu nại thì nội dung khiếu nại còn lại được tiếp tục giải quyết theo quy định (khoản 2 Điều 10). Nội dung khiếu nại đã rút sẽ không được xem xét, giải quyết lại, trừ trường hợp có căn cứ xác định người khiếu nại rút khiếu nại là do bị ép buộc, đe dọa (khoản 3 Điều 10).
Đồng bộ với quy định về rút khiếu nại đã được sửa đổi tại Điều 10, Luật đã sửa đổi nội dung giải thích từ ngữ đối với cụm từ "Rút khiếu nại" tại khoản 3 Điều 2. Theo đó, rút khiếu nại là việc người khiếu nại đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền chấm dứt một phần hoặc toàn bộ nội dung khiếu nại của mình.
- Về đối thoại trong giải quyết khiếu nại: Luật bổ sung quy định trường hợp người khiếu nại đã được mời đối thoại nhưng không tham gia đối thoại mà không có lý do chính đáng thì người giải quyết khiếu nại vẫn tiếp tục giải quyết khiếu nại (khoản 6 Điều 30); đồng thời giao Chính phủ quy định chi tiết khoản này.
3. Sửa đổi, bổ sung Luật Tố cáo
- Về thẩm quyền giải quyết tố cáo trong cơ quan hành chính nhà nước: Luật sửa đổi, hoàn thiện thẩm quyền giải quyết tố cáo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, cán bộ, công chức, viên chức do mình quản lý trực tiếp; giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cơ quan, tổ chức do Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý trực tiếp (khoản 1 Điều 13); sửa đổi, hoàn thiện quy định về thẩm quyền giải quyết tố cáo tại khoản 3 Điều 13 là của Người đứng đầu cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; sửa đổi, hoàn thiện quy định về thẩm quyền giải quyết tố cáo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp (điểm a khoản 4 Điều 13).
- Về rút tố cáo: Người tố cáo có quyền rút toàn bộ nội dung tố cáo hoặc một phần nội dung tố cáo trước khi người giải quyết tố cáo ra kết luận nội dung tố cáo. Việc rút tố cáo phải được thực hiện bằng đơn rút tố cáo hoặc biên bản ghi nhận ý kiến rút tố cáo của người tố cáo khi làm việc với người giải quyết tố cáo hoặc người xác minh nội dung tố cáo (khoản 1 Điều 33).
 

Văn phòng HĐND và UBND phường Vũ Phúc

Bản đồ hành chính Phường Vũ Phúc
Bạn đánh giá thế nào về chất lượng dịch vụ công trực tuyến?

Ý kiến của bạn giúp chúng tôi phục vụ tốt hơn.

Ý KIẾN NGƯỜI DÙNG

Kết quả đánh giá

Chất lượng dịch vụ công trực tuyến

174lượt đánh giá được ghi nhận
Rất hài lòng37%
64 lượt đánh giá
Hài lòng14%
25 lượt đánh giá
Bình thường16%
27 lượt đánh giá
Không hài lòng0%
0 lượt đánh giá
Ý kiến khác33%
58 lượt đánh giá
Cảm ơn bạn đã đóng góp ý kiến!
1.497.427
Tổng truy cập
1.208
Truy cập hôm nay
29
Đang online