Giới thiệu một số nội dung chính của Luật Hòa giải ở cơ sở
Luật Hòa giải ở cơ sở được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 20 tháng 6 năm 2013 (sau đây viết tắt là Luật). Luật có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2014. Luật gồm 05 Chương, 33 Điều. Dưới đây là một số nội dung chính của Luật:
1. Hòa giải ở cơ sở là gì?
Khoản 1 Điều 2 Luật giải thích từ ngữ: "Hòa giải ở cơ sở là việc hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật theo quy định của Luật này".
2. Phạm vi hòa giải ở cơ sở
Khoản 1 Điều 3 Luật quy định việc hòa giải được tiến hành đối với các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật phát sinh trong cộng đồng dân cư, trừ các trường hợp:
a) Mâu thuẫn, tranh chấp xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng;
b) Vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình, giao dịch dân sự mà theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự không được hòa giải;
c) Vi phạm pháp luật mà theo quy định phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị xử lý vi phạm hành chính;
d) Mâu thuẫn, tranh chấp khác không được hòa giải ở cơ sở theo quy định pháp luật.
3. Nguyên tắc tổ chức, hoạt động hòa giải ở cơ sở
Điều 4 Luật quy định 06 nguyên tắc tổ chức, hoạt động hòa giải ở cơ sở:
a) Tôn trọng sự tự nguyện của các bên; không bắt buộc, áp đặt các bên trong hòa giải ở cơ sở.
b) Bảo đảm phù hợp với chính sách, pháp luật của Nhà nước, đạo đức xã hội, phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân; phát huy tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình, dòng họ và cộng đồng dân cư; quan tâm đến quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em, phụ nữ, người khuyết tật và người cao tuổi.
c) Khách quan, công bằng, kịp thời, có lý, có tình; giữ bí mật thông tin đời tư của các bên, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 10 của Luật.
d) Tôn trọng ý chí, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng.
đ) Bảo đảm bình đẳng giới trong tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở.
e) Không lợi dụng hòa giải ở cơ sở để ngăn cản các bên liên quan bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định của pháp luật hoặc trốn tránh việc xử lý vi phạm hành chính, xử lý về hình sự.
4. Tiêu chuẩn của hòa giải viên
Điều 7 Luật quy định người được bầu làm hòa giải viên phải là công dân Việt Nam thường trú tại cơ sở, tự nguyện tham gia hoạt động hòa giải và có các tiêu chuẩn sau đây:
a) Có phẩm chất đạo đức tốt; có uy tín trong cộng đồng dân cư;
b) Có khả năng thuyết phục, vận động nhân dân; có hiểu biết pháp luật.
5. Bầu, công nhận hòa giải viên
Điều 8 Luật quy định việc bầu, công nhận hòa giải viên như sau:
a) Người có đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 7 của Luật này có quyền ứng cử hoặc được Ban công tác Mặt trận phối hợp với các tổ chức thành viên của Mặt trận giới thiệu vào danh sách bầu hòa giải viên.
b) Trưởng ban công tác Mặt trận chủ trì, phối hợp với trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố tổ chức bầu hòa giải viên ở thôn, tổ dân phố bằng một trong các hình thức sau đây:
- Biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín tại cuộc họp đại diện các hộ gia đình;
- Phát phiếu lấy ý kiến các hộ gia đình.
c) Kết quả bầu hòa giải viên:
- Người được đề nghị công nhận là hòa giải viên phải đạt trên 50% đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố đồng ý;
- Trường hợp số người đạt trên 50% đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố đồng ý nhiều hơn số lượng hòa giải viên được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định theo quy định tại khoản 2 Điều 12 của Luật này thì danh sách người được đề nghị công nhận là hòa giải viên lấy theo kết quả bỏ phiếu từ cao xuống thấp;
- Trường hợp số người được bầu không đủ để thành lập tổ hòa giải thì tổ chức bầu bổ sung cho đủ số lượng;
- Trưởng ban công tác Mặt trận lập danh sách người được đề nghị công nhận là hòa giải viên gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã.
d) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định công nhận hòa giải viên. Quyết định công nhận hòa giải viên được gửi cho Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, Trưởng ban công tác Mặt trận, trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố, hòa giải viên và thông báo công khai ở thôn, tổ dân phố.
6. Căn cứ tiến hành hòa giải
Điều 16 Luật quy định hòa giải ở cơ sở được tiến hành khi có một trong các căn cứ sau đây:
a) Một bên hoặc các bên yêu cầu hòa giải;
b) Hòa giải viên chứng kiến hoặc biết vụ, việc thuộc phạm vi hòa giải;
c) Theo phân công của tổ trưởng tổ hòa giải hoặc đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
7. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hòa giải
Điều 17 Luật quy định các bên trong hòa giải có các quyền và nghĩa vụ sau:
a) Lựa chọn, đề xuất hòa giải viên, địa điểm, thời gian để tiến hành hòa giải.
b) Đồng ý hoặc từ chối hòa giải; yêu cầu tạm dừng hoặc chấm dứt hòa giải.
c) Yêu cầu việc hòa giải được tiến hành công khai hoặc không công khai.
d) Được bày tỏ ý chí và quyết định về nội dung giải quyết hòa giải.
đ) Trình bày đúng sự thật các tình tiết của vụ, việc; cung cấp tài liệu, chứng cứ có liên quan.
e) Tôn trọng hòa giải viên, quyền của các bên có liên quan.
g) Không gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự tại địa điểm hòa giải.
8. Tiến hành hòa giải
Điều 21 Luật quy định về tiến hành hòa giải:
a) Hòa giải được tiến hành trực tiếp, bằng lời nói với sự có mặt của các bên. Trong trường hợp các bên có người khuyết tật thì có sự hỗ trợ phù hợp để có thể tham gia hòa giải.
b) Hòa giải được tiến hành công khai hoặc không công khai theo ý kiến thống nhất của các bên.
c) Tùy thuộc vào vụ, việc cụ thể, trên cơ sở quy định của pháp luật, đạo đức xã hội, phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân, hòa giải viên áp dụng các biện pháp thích hợp nhằm giúp các bên hiểu rõ về quyền lợi, trách nhiệm của mỗi bên trong vụ, việc để các bên thỏa thuận việc giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp và tự nguyện thực hiện thỏa thuận đó.
Trong trường hợp không đạt được thỏa thuận, hòa giải viên hướng dẫn các bên đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.
d) Hòa giải viên có trách nhiệm ghi nội dung vụ, việc hòa giải vào Sổ theo dõi hoạt động hòa giải ở cơ sở.
Trường hợp các bên đồng ý thì lập văn bản hòa giải thành theo quy định tại khoản 2 Điều 24 của Luật này.
9. Hòa giải thành
Điều 24 Luật quy định:
a) Hòa giải thành là trường hợp các bên đạt được thỏa thuận.
b) Các bên có thể thỏa thuận lập văn bản hòa giải thành gồm các nội dung chính sau đây: Căn cứ tiến hành hòa giải; Thông tin cơ bản về các bên; Nội dung chủ yếu của vụ, việc; Diễn biến của quá trình hòa giải; Thỏa thuận đạt được và giải pháp thực hiện; Quyền và nghĩa vụ của các bên; Phương thức, thời hạn thực hiện thỏa thuận; Chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên và của hòa giải viên.
10. Hòa giải không thành
Điều 27 Luật quy định: Hòa giải không thành là trường hợp các bên không đạt được thỏa thuận. Trong trường hợp này, các bên có quyền yêu cầu tiếp tục hòa giải hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.
Trên đây là một số nội dung cơ bản của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013. Việc tìm hiểu và thực hiện đúng các quy định của Luật sẽ góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, giải quyết hiệu quả các mâu thuẫn, tranh chấp ngay từ cơ sở, xây dựng cộng đồng dân cư đoàn kết, văn minh, ổn định và phát triển.
